![]() |
|
| Giờ làm việc tại Trung tâm y khoa (Hòa hảo) |
Các khuyến cáo được cung cấp trong bài này đem lại một cách hỗ trợ bằng dữ liệu cho việc chẩn đoán, phân giai đoạn và điều trị những bệnh nhân được chẩn đoán bị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Các khuyến cáo này dựa trên những điều sau đây:
Xơ gan là giai đoạn cuối cùng của bệnh gan mạn tính và là nguyên nhân quan trọng đưa đến tử vong, khoảng 800.000 người chết vì xơ gan mỗi năm. Người ta ước tính đến năm 2020 tỉ lệ người viêm gan C có xơ gan tăng gấp đôi từ 16% đến 32% và tỉ lệ chết vì bệnh gan tăng 180%.
Nhiễm virus viêm gan C (HCV) là nhiễm virus truyền qua đường máu mạn tính thường gặp nhất ở Mỹ, với khoảng 3,2 triệu người bị nhiễm virus mạn tính . Trong số những người bị nhiễm virus mạn tính, 60-70% phát triển bệnh gan mạn tính. Trong khi hầu hết bệnh nhân được sinh thiết gan trước khi điều trị nhiễm HCV mạn tính, ích lợi của việc sinh thiết thường quy tiếp tục được tranh luận.
Xơ gan là một đáp ứng mô không đặc hiệu đối với viêm mạn tính liên quan với tổn thương mô chưa được giải quyết. Xơ gan – giai đoạn kết thúc của xơ hóa – là nguyên nhân chính của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong bệnh gan mạn tính . Vì vậy, việc đánh giá mức độ xơ hóa (giai đoạn) thường là một điều kiện tiên quyết đối với việc quản lý và theo dõi bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính ...
Thời gian điều trị tối ưu khi dùng peginterferon alfa-2a kết hợp ribavirin đã được nghiên cứu nhiều cho viêm gan C mạn tính genotype 1,2 và 3. Tuy nhiên rất ít nghiên cứu cho genotype 6 . Vì vậy mục đích của nghiên cứu này so sánh hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị: phác đồ chuẩn (48 tuần) và phác đồ rút ngắn (24 tuần) cho genotype 6. Qua đó cũng xem xét các yếu tố tiên đoán đáp ứng siêu vi bền vững.
Xem bài viếtNhiễm virus viêm gan C (HCV) cấp tính hiếm khi được phát hiện ở trẻ em, và hiếm gặp nhiễm HCV tối cấp. Do đó, có ít dữ liệu về điều trị nhiễm HCV cấp tính ở nhóm tuổi trẻ em. Ngoài ra, trẻ em chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nhóm dân số bị nhiễm HCV, nhưng có một số lượng trẻ em đáng kể bị nhiễm HCV mạn tính
Tỷ lệ mắc virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan C (HCV) cao trên toàn cầu, liên quan với đường truyền chung của các virus này và giải thích cho những dấu hiệu thường gặp không tránh khỏi của sự đồng nhiễm HBV/HCV. Những tương tác này đã được mô tả đầu tiên khi nhiễm HCV được biết dưới dạng viêm gan không A, không B. ...
Viêm gan B mạn tính vẫn còn là một vấn đề y tế quan trọng toàn cầu. Sự tiến triển đến xơ gan, bệnh gan mất bù và ung thư biểu mô tế bào gan là những hậu quả bất lợi chính của bệnh chưa được điều trị. Vì vậy, mục tiêu trị liệu là để dự phòng các biến chứng này nhằm ngăn ngừa kết cuộc tử vong sớm do viêm gan B mạn tính. Hiện nay có 7 thuốc đã được chấp thuận để điều trị viêm gan B mạn tính ở Mỹ là: interferon alfa-2b, peginterferon alfa-2a, lamivudine, adefovir, entecavir , telbivudine, tenofovir ...